thi cong noi that chung cu

Thiet ke nha dep

Xem video>>: Treo chân mày bằng chỉ


Bệnh viện thẩm mỹ uy tín


Cắt mí mắt hàn quốc đẹp


Nâng mũi cấu trúc


Quy định Lương tối thiểu vùng: Đang bị doanh nghiệp lạm dụng?
580 lượt

Quy định Lương tối thiểu vùng: Đang bị doanh nghiệp lạm dụng?

 

Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng là nhằm hạn chế việc trả lương tùy tiện và quá thấp. Song, hiện nhiều DN đang lạm dụng điều này để trả lương cho hầu hết NLĐ, bất kể tay nghề ra sao. Chính vì vậy, cần có cơ quan tính toán mức sống tối thiểu hàng năm làm căn cứ để yêu cầu các DN trả lương xứng đáng với công sức mà NLĐ bỏ ra.


Mức LTT còn thấp

Theo ông Vũ Quang Thọ- Viện trưởng Viện Công nhân và Công đoàn (Tổng LĐLĐ Việt Nam), tiền lương tối thiểu (LTT) đã được quy định từ năm 1992, song việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Từ năm 1990- 1999, Việt Nam chỉ quy định mức LTT vùng cho DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các DN trong nước áp dụng mức LTT chung như các đơn vị HCSN, LLVT. Từ năm 2007- 2017, mức LTT vùng áp dụng trong các DN FDI tăng 279,0% (từ 790.000 đồng lên 3.137.500 đồng); mức LTT áp dụng trong các DN dân doanh tăng 497,0% (từ 450.000 đồng lên 3.137.500 đồng).


Kết quả khảo sát của Viện Công nhân và Công đoàn cho thấy, tiền lương thực tế của NLĐ hết quý I/2017 (sau điều chỉnh) tăng 8,1%- cao hơn mức tăng LTT vùng (trung bình 7,3%). Trong đó, DN ngoài quốc doanh tăng 8,02%; DN FDI tăng 5,0%. Nhiều DNNN điều chỉnh LTT vùng, kết hợp thực hiện thang bảng lương mới theo Nghị định 49/2013/NĐ-CP nên quỹ lương tăng 15,2%, chủ yếu là bù đắp mức đóng bảo hiểm cho NLĐ có mức lương dưới mức LTT vùng. Đặc biệt, mức tăng LTT vùng thấp hơn nhiều so với các năm trước đó, nên không tác động nhiều đến chi phí sản xuất kinh doanh và DN vẫn phát triển ổn định.


Cũng theo ông Vũ Quang Thọ, ngoài tiền lương cơ bản, NLĐ còn có thêm thu nhập từ tiền làm thêm giờ, tiền phụ cấp chuyên cần, thâm niên, trách nhiệm, kỹ năng, nhà ở, xăng xe, hỗ trợ đời sống (không kể tiền ăn ca chủ yếu phục vụ trực tiếp)... Các khoản này chiếm từ 20- 25% thu nhập của NLĐ. Đối với tiền làm thêm giờ, thực tế các DN thâm dụng lao động như dệt may, da giày, điện tử lại coi đó là chuyện hiển nhiên, không tuyển thêm lao động và luôn muốn tăng thời giờ làm thêm ở mức cao. “Kết quả khảo sát cho thấy, 57,6% số NLĐ cho biết trong tháng 3/2017 họ có làm thêm giờ, mức trung bình là 33,7 giờ/tháng với số tiền gần 1,2 triệu đồng. Đây là khoản thu nhập đáng kể để NLĐ trang trải cho cuộc sống đang thiếu thốn của họ. Trong số này, 84,4% số NLĐ cho biết “muốn” đi làm thêm là để tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, số còn lại phải làm thêm theo sắp xếp của DN”- ông Thọ khẳng định.


Ông Thọ cũng cho biết thêm, hầu hết các khoản thu nhập NLĐ phải trang trải cho cuộc sống hằng ngày, chủ yếu là phục vụ đời sống vật chất mà chưa có điều kiện chăm lo về đời sống tinh thần. Nếu không có các khoản làm thêm giờ và hỗ trợ từ phía DN thì tiền lương của NLĐ rất thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn và không thể có tích lũy. NLĐ phải tiết giảm chi tiêu một cách tối đa mới có thể đảm bảo cân đối tài chính cho gia đình. Cụ thể, theo kết quả khảo sát 816 hộ gia đình công nhân (mỗi hộ 4 người, trong đó có 2 người là công nhân và 2 người ăn theo), trung bình một tháng họ chi tiêu hết 9.038.000 đồng, trong khi thu nhập trung bình của một NLĐ là 4.716.500 đồng/tháng. Trong đó, tiền ăn trung bình hết 3,3 triệu đồng; tiền thuê nhà trọ 995.000 đồng; tiền điện, nước, gas 624.000 đồng; xăng xe, đi lại, điện thoại 593.000 đồng; chi phí học tập của con cái (tính những người có 2 con đi học) 1,34 triệu đồng; KCB, thăm hỏi ốm đau, hiếu, hỷ 760.000 đồng; đồ dùng cá nhân, trang phục 702.000 đồng và các khoản khác khoảng 750.000 đồng.


Tiền lương phải đáp ứng nhu cầu NLĐ

Phân tích ảnh hưởng của tiền lương bình quân đến năng suất lao động trong nền kinh tế, bà Trần Thị Minh Phương- Trường ĐH LĐ&XH cho biết: Tiền lương là nguồn thu nhập chính để duy trì và nâng cao đời sống cho bản thân NLĐ, gia đình của NLĐ và tái sản xuất sức lao động; tăng lương phải dựa trên tăng năng suất lao động. Song, tiền lương cũng cần đảm bảo đủ sống và kích thích tăng năng suất lao động. Tiền lương phải được coi là sự đầu tư vào vốn con người, đầu tư cho phát triển, là yếu tố quyết định nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên, tiền lương ở Việt Nam được đánh giá là khá thấp. Điều này tạo “ưu thế” cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài: song lại gây nên nhiều vấn đề trong quan hệ lao động. “Tranh chấp lao động chủ yếu liên quan đến vấn đề tiền lương; hơn 80% các cuộc ngừng việc tập thể là đòi tăng lương hoặc đòi trả đúng lương, nhất là lương làm thêm giờ, tiền thưởng, ăn giữa ca…”- bà Phương cho biết.


Cũng theo bà Phương, sự điều chỉnh chính sách tiền lương của Nhà nước cũng như của DN cần thiết phải xem xét đến lợi ích của NLĐ, nhằm xác định được mức lương xứng đáng với đóng góp của NLĐ. Đó là động lực để NLĐ cống hiến, góp phần thúc đẩy năng suất lao động chung trong nền kinh tế. Việc trả lương thấp, thiếu công bằng, không dựa trên năng suất lao động cá nhân có thể dẫn đến những xung đột giữa NLĐ và chủ SDLĐ và ảnh hưởng đến lợi ích của các bên trong nền kinh tế.


Cùng quan điểm, ông Vũ Quang Thọ nhận định, mức LTT Chính phủ quy định chỉ là mức sàn nhằm hạn chế việc trả lương tùy tiện quá thấp, chống bóc lột, làm cơ sở để các DN xây dựng thang lương, bảng lương, đảm bảo mức lương bậc 1 chưa qua đào tạo, không thấp hơn mức LTT vùng. Tuy nhiên, các DN đã lạm dụng mức này để trả lương cho hầu hết NLĐ, nên mức lương cơ bản, mức lương làm căn cứ đóng BHXH cho NLĐ rất thấp, chỉ trên mức LTT vùng khoảng 15%. “Do đó, Chính phủ cần có lộ trình và chỉ đạo thực hiện điều chỉnh mức LTT vùng đáp ứng mức sống tối thiểu của NLĐ vào năm 2018”- ông Thọ nhấn mạnh.


nguồn:https://baohiemxahoi.gov.vn